Tóm tắt: Ứng dụng công nghệ trong phát triển kinh tế số ngành Văn hóa mở ra hướng đi mới cho việc bảo tồn, sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam. Các công nghệ mới và nền tảng trực tuyến đang được ứng dụng, khai thác nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, nâng cao trải nghiệm người dùng, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm văn hóa cũng như thị trường ở trong và ngoài nước. Nội dung bài viết tập trung vào bốn vấn đề chính: Số hóa tài nguyên văn hóa; Phát triển thị trường và sản phẩm văn hóa số; Ứng dụng dữ liệu lớn và nền tảng số trong quản lý, quảng bá và phân phối sản phẩm, từ đó, hình thành chuỗi giá trị văn hóa - công nghệ - thương mại; Đề xuất một số chính sách và khung pháp lý cho kinh tế số ngành Văn hóa, hướng tới bảo vệ bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ và khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Thời trang là một trong những lĩnh vực của ngành công nghiệp văn hóa. Trong bối cảnh cả nước thúc đẩy kinh tế sáng tạo, việc đưa giá trị trang phục truyền thống vào đời sống đương đại ngày càng được chú trọng, bởi đó là cách để văn hóa chuyển hóa thành sức mạnh mềm, nuôi dưỡng bản sắc đồng thời tạo ra động lực kinh tế mới. Trong hành trình đó, “Tri thức may, mặc Áo dài Huế” đang trở thành một nền tảng quan trọng giúp thành phố Huế tạo dựng ngành công nghiệp văn hóa mang bản sắc riêng.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu tri thức chính trị như một dạng tri thức văn hóa đặc thù của Nam Bộ, phản ánh mối quan hệ giữa nhận thức, hành vi và giá trị sống trong bối cảnh chuyển đổi xã hội và chuyển đổi số. Trên nền tảng truyền thống (nghĩa tình - khoan dung), người Nam Bộ đang tái cấu trúc tri thức chính trị thông qua văn hóa số, thể hiện qua sáng tạo nghệ thuật, truyền thông mạng và diễn ngôn xã hội. Bằng phương pháp định tính (phân tích diễn ngôn, phỏng vấn, quan sát thực địa tại Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, trước tháng 7-2025), bài viết làm rõ đặc trưng và sự chuyển hóa của tri thức chính trị Nam Bộ từ truyền thống sang hiện đại. Từ đó, tác giả đề xuất hướng phát huy giá trị tri thức này để xây dựng bản lĩnh công dân số Việt Nam, kết hợp bản sắc văn hóa dân tộc và thích ứng sáng tạo trong kỷ nguyên số.
Trong thời đại hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng công nghiệp 4.0, bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của nền công nghiệp văn hóa Việt Nam. Quyền tác giả và quyền liên quan bảo đảm lợi ích cho người sáng tạo, doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời định hình văn hóa, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và quảng bá hình ảnh quốc gia.
Trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, thủ công mỹ nghệ được xác định là một trong 12 lĩnh vực trụ cột, góp phần tạo ra những sản phẩm - dịch vụ văn hóa có tính cạnh tranh cao, tạo thêm công ăn việc làm ổn định, đóng góp tích cực cho nền kinh tế, góp phần đưa văn hóa Việt Nam ra với thế giới, phát huy nội lực, quảng bá hình ảnh đất nước. Đây là sự khẳng định tầm nhìn của Đảng và Nhà nước trong phát triển văn hóa: từ “bảo tồn thuần túy” sang “phát triển dựa trên sáng tạo”, từ “giữ gìn giá trị” sang “chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững”.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của sức mạnh mềm văn hóa trong chiến lược đối ngoại của Cộng hòa Pháp, nơi văn hóa được coi là cốt lõi làm nên uy tín và tầm ảnh hưởng quốc gia. Pháp đã xây dựng mạng lưới rộng khắp các viện văn hóa, trường đại học, tổ chức nghệ thuật, điện ảnh và truyền thông quốc tế, qua đó quảng bá ngôn ngữ, di sản và lối sống Pháp ra toàn cầu. Nhờ đó, Pháp không chỉ duy trì vị thế cường quốc văn hóa mà còn gắn kết hiệu quả ngoại giao chính trị, kinh tế và giáo dục. Từ trường hợp này, bài viết rút ra bài học cho Việt Nam: cần có tầm nhìn chiến lược dài hạn, đầu tư thiết chế văn hóa đối ngoại, phát huy giá trị ngôn ngữ và di sản, đa dạng hóa kênh truyền thông, đồng thời kết hợp văn hóa với lợi ích kinh tế, chính trị. Văn hóa, vì vậy, không chỉ là “mặt mềm” mà là một trụ cột chiến lược trong phát triển và hội nhập quốc tế.
Tóm tắt: Nghi lễ trong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đóng vai trò quan trọng trong giáo dục và rèn luyện học viên, góp phần hình thành phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Thông qua các nghi lễ truyền thống, nhà trường quân đội giáo dục sâu sắc về truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng; xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, lễ tiết tác phong chính quy; bồi đắp tinh thần đoàn kết, niềm tự hào và trách nhiệm của quân nhân đối với Tổ quốc. Nghi lễ được thực hiện trang trọng, thống nhất cũng góp phần tạo dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự mẫu mực, nâng cao hiệu quả đào tạo. Trong bối cảnh mới, việc tổ chức nghi lễ cần tiếp tục được phát huy một cách sáng tạo, tránh hình thức, nhằm giữ vững và lan tỏa những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tóm tắt: Tỉnh Đồng Nai hiện là nơi cư trú tập trung của cộng đồng người S’tiêng - một dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa phong phú và tổ chức xã hội đặc thù. Việc nghiên cứu về vai trò phụ nữ S’tiêng tại Đồng Nai được thực hiện qua hai khung lý thuyết:“thương lượng với chế độ phụ quyền” (Kandiyoti) và “nhóm câm lặng” (E. Ardener) của bài viết đã cho thấy phụ nữ S’tiêng vừa đối diện cấu trúc quyền lực truyền thống, vừa thích ứng với hội nhập và biến đổi gia đình; đồng thời, sự so sánh nhóm phụ hệ (Bù Lơ) và mẫu hệ (Bù Đéc) là chiến lược thương lượng giới khác biệt, phản ánh sự bền bỉ của chuẩn mực văn hóa và tính chủ động tái định nghĩa vai trò phụ nữ S’tiêng đã được mở rộng vị trí trong kinh tế hộ gia đình, nghi lễ, dòng họ và cộng đồng. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nội sinh nhằm tăng quyền năng phụ nữ, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển bền vững dựa vào nội lực cộng đồng.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của giáo dục nhân văn trong bối cảnh phát triển bền vững, đồng thời khảo sát mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục nhân văn và xây dựng con người mới trong thế giới hiện đại. Trong TK XXI, khi những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và bất bình đẳng xã hội ngày càng trở nên cấp bách, giáo dục nhân văn không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà còn phải gắn liền với trách nhiệm đạo đức và phẩm hạnh của con người đối với xã hội và môi trường. Tác giả trình bày những luận điểm lý luận, phương pháp và thực tiễn của giáo dục nhân văn hướng đến phát triển bền vững, với mục tiêu tạo ra những con người có tri thức và năng lực, đồng thời có trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội và hành tinh.
Là một đơn vị trực thuộc Bộ VHTTDL, trong những năm qua, Nhà hát Kịch Việt Nam luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị - văn hóa, nghệ thuật của đơn vị theo đúng đường lối của Đảng và Nhà nước. Trong dòng chảy suốt hơn 70 năm hình thành và phát triển, Nhà hát Kịch Việt Nam đã trở thành một trong những đơn vị nghệ thuật tiêu biểu, có vai trò tiên phong trong sự nghiệp xây dựng nền sân khấu cách mạng nước nhà. Là đơn vị nghệ thuật kịch nói đầu tiên của cả nước, ra đời trong khói lửa kháng chiến, từ năm 1952 đến nay, chặng đường phát triển của Nhà hát Kịch Việt Nam là hành trình của sự cống hiến bền bỉ, sáng tạo không ngừng, luôn đồng hành cùng dân tộc và thời đại.
Trải qua 80 năm hình thành và phát triển ngành Văn hóa đã và đang khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần vững chắc, là động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Trong hành trình ấy, Nghệ An cũng đã có những bước tiến dài và vững chắc trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa. Từ một nhiệm vụ chính trị trở thành một khát vọng phát triển, đời sống văn hóa ở Nghệ An ngày càng thấm sâu vào từng ngõ ngách của đời sống xã hội, trở thành nền tảng cho sự phát triển toàn diện của tỉnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.