Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển đô thị, du lịch nghệ thuật đang nổi lên như một xu hướng mới của du lịch văn hóa ở các nước châu Á. Loại hình du lịch này phát huy giá trị của các di sản nghệ thuật để tạo ra những trải nghiệm sáng tạo, tương tác và đồng sáng tạo giữa du khách với nghệ sĩ, cộng đồng địa phương và các không gian nghệ thuật. Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết về du lịch văn hóa, du lịch sáng tạo, các hình thức du lịch nghệ thuật, bài viết làm rõ khái niệm du lịch nghệ thuật, đồng thời phân tích các xu hướng phát triển chủ yếu của loại hình này trên thế giới thông qua các mô hình tiêu biểu như du lịch bảo tàng, du lịch nghệ thuật biểu diễn, du lịch lễ hội nghệ thuật, nghệ thuật công cộng và các không gian sáng tạo. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phân tích trường hợp, nghiên cứu đánh giá sơ bộ về thực trạng phát triển du lịch nghệ thuật tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên nghệ thuật phong phú và đã xuất hiện nhiều mô hình du lịch nghệ thuật có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn đang đối mặt với những hạn chế như thiếu khung khái niệm và chính sách chuyên biệt, sự liên kết giữa các chủ thể còn yếu và chưa hình thành được thương hiệu điểm đến nghệ thuật có sức cạnh tranh quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng nhằm thúc đẩy phát triển du lịch nghệ thuật gắn với công nghiệp văn hóa và phát triển đô thị sáng tạo tại Việt Nam trong thời gian tới.
Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và phát triển công nghiệp văn hóa, quản trị thương hiệu điểm đến ngày càng gắn với yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Với hệ thống di sản phong phú, đây không chỉ là nguồn lực phát triển du lịch mà còn là nền tảng tạo dựng bản sắc và giá trị thương hiệu điểm đến của Hà Nội. Tuy nhiên, quá trình khai thác du lịch vẫn còn hạn chế như thiếu gắn kết giữa bảo tồn và phát triển, diễn giải di sản chưa tạo chiều sâu trải nghiệm, quản trị thương hiệu còn phân tán và chưa phát huy hiệu quả vai trò của cộng đồng, công nghệ số. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và xây dựng thương hiệu điểm đến, đánh giá thực trạng quản trị thương hiệu điểm đến du lịch văn hóa, lịch sử tại Hà Nội; đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển du lịch bền vững.
Tóm tắt: Phát triển du lịch mạo hiểm dựa vào cộng đồng tại các khu bảo tồn thiên nhiên là một chiến lược phổ biến nhằm đạt mục tiêu kép: phát triển sinh kế và bảo tồn di sản. Tuy nhiên, sự tăng trưởng quá nhanh của phân khúc này thường tạo ra những xung đột sâu sắc đối với không gian sinh tồn và bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc Cơ Ho. Bài viết sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp từ các đề tài nghiên cứu thể chế giai đoạn 2024-2025 với phương pháp điền dã dân tộc học và phỏng vấn sâu đại diện tại các Bon đệm (Đa Blah, Đa Ra Hoa, Đa Tro) thuộc Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù mô hình liên kết ba bên đã tạo ra những cải thiện sinh kế ban đầu cho cộng đồng Cơ Ho (nhóm Chil, Lạch), mối quan hệ này đang vấp phải bốn rào cản nội tại nghiêm trọng: sự phân công lao động ở phân khúc giá trị thấp; thiếu hụt năng lực và tính chuyên nghiệp trong vận hành; tình trạng thương mại hóa,“sân khấu hóa”cưỡng ép làm đứt gãy không gian văn hóa tâm linh; và sự bất đối xứng trong phân chia lợi ích kinh tế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị mang tính thể chế nhằm tái cấu trúc chuỗi giá trị và trao quyền tự chủ văn hóa cho cộng đồng.
Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích trải nghiệm Templestay như một hình thức du lịch dựa vào di sản văn hóa Phật giáo tại một số quốc gia Đông Bắc Á, nhằm gợi mở định hướng phát triển cho Việt Nam. Kết quả cho thấy hoạt động Templestay tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc không tồn tại mô hình đồng nhất mà được hiện thực hóa khác nhau theo bối cảnh văn hóa - xã hội ở mỗi quốc gia. Hàn Quốc phát triển theo hướng có cấu trúc hệ thống, Nhật Bản nhấn mạnh trải nghiệm nội quán, trong khi Trung Quốc linh hoạt kết hợp với các hình thức chữa lành. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc phát triển Templestay tại Việt Nam cần dựa trên thiết kế trải nghiệm cấu trúc, thay vì sao chép mô hình. Đồng thời, nghiên cứu góp phần làm rõ cách thức Templestay được hình thành và vận hành trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích việc tiếp cận văn hóa Halal trong chiến lược đa dạng hóa thị trường khách du lịch tại Phú Quốc, qua đó làm rõ vai trò của sự thích ứng văn hóa điểm đến trong thu hút khách Hồi giáo. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố gắn với văn hóa Halal, gồm nhân sự am hiểu văn hóa Hồi giáo, cơ sở lưu trú, ẩm thực Halal và thông tin cho du khách, có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng, ý định quay lại và xu hướng giới thiệu điểm đến. Phú Quốc được đánh giá là điểm đến thân thiện Halal, tuy nhiên vẫn còn hạn chế về cơ sở cầu nguyện, thông tin và tính đồng bộ dịch vụ. Nghiên cứu đóng góp học thuật thông qua việc làm rõ mối liên hệ giữa tiếp cận văn hóa Halal, trải nghiệm du khách và đa dạng hóa thị trường quốc tế, đồng thời đề xuất hàm ý chính sách và quản trị nhằm phát triển điểm đến theo hướng bao trùm, nhạy cảm văn hóa và bền vững.
Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển hóa di sản văn hóa của cộng đồng Kinh, Hoa và Khmer tại khu vực Sóc Trăng (cũ), thành phố Cần Thơ dưới góc nhìn di sản sống và đồng kiến tạo giá trị (Poulios, 2014). Dựa trên phương pháp nghiên cứu tình huống với 24 cuộc phỏng vấn sâu, kết quả cho thấy nguồn lực di sản của địa phương khá phong phú nhưng giá trị kinh tế và trải nghiệm du lịch được tạo ra chưa tương xứng. Ba hạn chế chính được xác định gồm: nội dung diễn giải di sản còn thiếu chiều sâu, liên kết giữa các điểm đến còn rời rạc và cộng đồng chưa được trao vai trò phù hợp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất xác định cộng đồng là chủ thể trực tiếp tham gia bảo tồn, diễn giải và tạo ra giá trị từ di sản; đồng thời phát triển các hoạt động giúp du khách quan sát, tương tác và thực hành tại điểm đến. Hướng tiếp cận này góp phần chuyển các giá trị di sản thành trải nghiệm có thể cảm nhận, qua đó nâng cao sức hấp dẫn của du lịch văn hóa khu vực Sóc Trăng trong không gian du lịch thành phố Cần Thơ mở rộng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15.
Tóm tắt: Sự ủng hộ của cư dân địa phương được xem là điều kiện quan trọng đối với phát triển du lịch cộng đồng. Lý thuyết trao đổi xã hội (SET) là nền tảng lý thuyết phổ biến để giải thích thái độ của cư dân dựa trên đánh giá lợi ích và chi phí cảm nhận từ phát triển du lịch. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu nhấn mạnh tính duy lý cá nhân và chưa phản ánh đầy đủ vai trò của bối cảnh xã hội và thể chế trong quá trình hình thành sự ủng hộ của cộng đồng địa phương. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết, bài viết phân tích những hạn chế của SET, đồng thời đề xuất một khung nghiên cứu tích hợp giữa SET, các tiếp cận về tính hợp lý tập thể và lý thuyết các bên liên quan. Nghiên cứu đề xuất vai trò của mức độ trao quyền cộng đồng như một điều kiện thể chế phản ánh khả năng cư dân tham gia và ảnh hưởng trong quá trình ra quyết định phát triển du lịch. Theo đó, sự ủng hộ của cư dân được xem là kết quả của tương tác giữa đánh giá cá nhân, quan hệ xã hội và điều kiện thể chế. Nghiên cứu góp phần mở rộng SET theo hướng xã hội - thể chế và gợi mở định hướng cho các nghiên cứu thực nghiệm về phát triển du lịch cộng đồng.
Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình tái cấu trúc nghề gốm truyền thống tại làng Bàu Trúc trong bối cảnh phát triển du lịch. Dựa trên khảo sát thực địa, kết hợp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và tư liệu thứ cấp, cùng với tiếp cận lý thuyết về tái cấu trúc văn hóa, nghiên cứu cho thấy dưới tác động của thị trường du lịch, thực hành nghề gốm đang có những chuyển biến đáng kể. Quá trình này thể hiện ở ba phương diện chính: gia tăng quy mô và mức độ tham gia của các hộ dân; mở rộng tổ chức sản xuất theo hướng đa dạng và hình thành các liên kết chuỗi giá trị; cùng với sự tái định vị danh mục sản phẩm từ gốm gia dụng sang gốm mỹ nghệ. Bên cạnh đó, những điều chỉnh về kỹ thuật sản xuất, phân công lao động, phương thức tiêu thụ và cách thức trình hiện nghề gốm như một sản phẩm du lịch cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng, trong khi các yếu tố cốt lõi như kỹ thuật thủ công, tri thức bản địa và ý nghĩa văn hóa vẫn được duy trì. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ cơ chế vận hành của quá trình tái cấu trúc các thực hành sản xuất, đồng thời gợi mở cách tiếp cận phân tích thực hành nghề từ góc nhìn chủ thể tự quyết trong bối cảnh du lịch.
Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích liên kết trong phát triển du lịch văn hóa gắn với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn quản trị điểm đến dựa trên di sản. Trên cơ sở thiết kế nghiên cứu trường hợp định tính, bài viết khai thác công trình khoa học, hồ sơ UNESCO, văn bản chính sách và báo cáo chuyên ngành được cập nhật đến tháng 7/2025. Dữ liệu được xử lý bằng phân tích nội dung theo sáu chiều: quản lý và hoạch định chính sách, tổ chức không gian du lịch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Kết quả cho thấy liên kết trong bảo tồn di sản, tổ chức lễ hội và huy động cộng đồng đã hình thành tương đối rõ, song liên kết chức năng phục vụ vận hành sản phẩm du lịch còn thiếu ổn định. Các không gian văn hóa vệ tinh chưa được tích hợp thành hệ sản phẩm thường xuyên; quảng bá còn phụ thuộc nhiều vào sự kiện; cơ chế cộng đồng tham gia thiết kế, cung ứng và phân phối lợi ích chưa được thể hiện rõ. Nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa mạng lưới bảo tồn di sản và mạng lưới tạo giá trị du lịch, từ đó đề xuất chuyển từ phối hợp theo sự kiện sang quản trị điểm đến thường trực và phát triển sản phẩm theo cấu trúc trung tâm - vệ tinh.
Tóm tắt: Mặc dù định hướng phát triển bền vững đang trở thành mục tiêu ưu tiên, nhưng tác động của các quy trình làm việc phi chính thức đối với hành vi bảo vệ môi trường của nhân viên trong ngành Lưu trú vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu tình huống nhúng, dựa trên dữ liệu từ 45 cuộc phỏng vấn chuyên sâu tại các khách sạn ở Anh và Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng sự tự phát và tính phi chính thức trong thực tiễn tiêu thụ năng lượng đóng vai trò như một rào cản lớn, ngăn cản việc thực thi các hành vi thân thiện với môi trường tại nơi làm việc. Những “quy tắc bất thành văn”, sự thiếu vắng các tài liệu chuẩn hóa và áp lực vận hành dịch vụ khiến nhân viên có xu hướng ưu tiên sự tiện lợi cá nhân thay vì các cam kết sinh thái của tổ chức. Phát hiện này đóng góp trực tiếp vào khuôn khổ lý thuyết về sự bền vững trong ngành Dịch vụ, mang đến góc nhìn mới mẻ về tác động của các thực tiễn phi chính thức tại môi trường làm việc đặc thù của khách sạn.